Thuật ngữ Sơn mài

A

Ám (sơn bị ám nước) – Buồng ủ có độ ẩm cao, nhiều hơi nước quá, sản phẩm bị hơi nước bám vào làm mặt sơn mờ tịt, nhìn như bị mốc trắng, không còn độ bóng nữa. Đó là sơn đã bị ám nước.

Ăn – Chất acid urushique trong nhựa sơn làm cho người tiếp xúc bị dị ứng, mặt và tay chân ngứa ngáy khó chịu, bị nặng có thể gây sưng phù và lở loét. Hiện tượng đó gọi là bị lở sơn, bị sơn ăn.

B

Bay xương – Dụng cụ làm từ xương sườn trâu xẻ dọc và chế tác cho vừa tay của người thợ. Bay xương dùng để trát bó và nghiền sơn.

Bắt hanh Vào mùa đông nếu không để sản phẩm sơn vào trong buồng ủ thì mặt sơn gặp không khí lạnh sẽ không khô kiệt được, mặt sơn không dính ướt nhưng vẫn hít tay. Hiện tượng này gọi là sơn đã bị bắt hanh.

Bàn vặn – Dụng cụ dùng để vặn sơn, lọc cho sơn mượt, không còn lẫn tạp chất.

– Sơn sống nhào trộn với đất sét và mùn cưa thành một hỗn hợp dẻo và đặc quánh được gọi là sơn bó. Thao tác trát sơn bó bằng bay xương hoặc mo sừng lên mặt gỗ đã bọc vải được gọi là bó sơn.

Buộc bạc, xếp bạc – Một xếp bạc gồm 50 lá bạc đặt cách nhau bởi một miếng giấy bản cùng kích thước và buộc lại gọi là một buộc bạc. Mười xếp gói lại thành một quỳ bạc.

C

Cầm (sơn cầm) – Là loại sơn chín pha chế với dầu trẩu. Sơn cầm dùng để thếp bạc, thếp vàng.

Cầm thếp – Là thao tác quét sơn cầm và thếp bạc, thếp bạc lên sản phẩm.

Cháy (sơn cháy) – Mặt sơn khi tiếp xúc với không khí sẽ bị oxy hóa tạo thành màng rồi khô lại. Để càng lâu lớp màng này càng khô cứng và dày lên. Hiện tượng này gọi là sơn cháy.

Chấp nước – Sản phẩm sơn xong để trong buồng ủ có độ ẩm cao, hơi nước bốc nhiều bám vào bề mặt sơn làm cho bề mặt sản phẩm bị mờ tịt, mất độ bóng. Tình trạng này gọi là sơn bị chấp nước hay bị ám nước.

Chiếng – Là công việc kiểm tra chất lượng của mẻ sơn trước khi đánh sơn chín. Sơn có thể được chiếng thử bằng cách quét sơn lên những thanh tre đã cạo sạch tinh hay quét sơn lên một tấm kính.

Cườm (sơn cườm) – Hiện tượng thường gặp khi quét sơn dầy mình, để trong buồng ủ sơn mau khô quá làm nhăn bề mặt sơn.

D

Dong (sơn dong) – Sơn quá loãng gọi là sơn dong. Sơn dong quét lên sản phẩm không được dầy mình, khi mài sẽ dễ bị thủng làm sản phẩm kém đẹp.

Diệm – chậu bằng sành dùng để chứa sơn và để đánh sơn. Diệm có thể chứa được từ 2 đến 5kg sơn.

Đ

Đánh (đánh sơn) – Thao tác chế biến sơn sống (sơn thô lấy từ nhựa cây sơn) thành sơn chín gọi là đánh sơn hoặc ngả sơn.

Đánh vải, phất vải – Dùng sơn sống dán vải lên cốt gỗ, dĩa gỗ.

Đấu (đấu sơn) – Pha trộn các loại sơn với nhau để tạo ra một loại thích hơp. Ví dụ: đấu sơn Phú Thọ nhanh khô với sơn Nam Vang chậm khô để tạo thành loại sơn vừa khô, sơn có độ dẻo và bóng mượt.

G

Gân (sơn gân) – Sơn sống đánh chưa chín tới, quét lên sản phẩm lúc khô rồi vẫn không tan hết vệt thép sơn gọi là sơn gân. Sơn loại xấu, đặc quá thường hay bị gân.

H

Hoàn kim – Phủ một lớp sơn quang lên bề mặt sản phẩm đã được thếp bạc làm sản phẩm khi khô trở nên vàng óng gọi là phủ hoàn kim.

Hom – Hỗn hợp gồm sơn sống nhào trộn với đất phù sa hoặc cao lanh gọi là sơn hom. Trong kỹ thuật làm vóc, công đoạn dùng sơn hom quét lên cốt gỗ đã được bọc vải gọi là hom sơn.

K

Kẹt Là động tác dùng sơn chín trộn với ít vôi cho sơn đặc lại để nghè, trét lên những chỗ trũng trên bề mặt của sản phẩm cho mau bằng mặt khi qua nước sơn thí đầu tiên. Kẹt sơn xong khi khô sẽ mài cho phẳng trước khi vào nước sơn thí thứ hai.

L

Lia (rà) – Là động tác dùng giấy nhám nước mịn hạt không có lót cục gỗ mài thật nhẹ nhàng lên bề mặt sản phẩm, tay kia kiểm tra độ phẳng nhẵn đã đạt yêu cầu hay chưa.

Lót Là công đoạn quét sơn sống lên sản phẩm sau khi đã qua nước sơn hom và mài hom.

Lở sơn – Khi tiếp xúc với nhựa cây sơn, những người có cơ địa mẫn cảm với nhựa sơn và hơi sơn sẽ rất dễ bị dị ứng, da mặt và tay chân ngứa ngáy có thể dẫn đến sưng phù, lở loét. Hiện tượng này gọi là bị lở sơn hay bị sơn ăn.

Lộng son Trên các hoành phi hay câu đối, những chỗ họa tiết chạm nổi thường được thếp bạc phủ hoàn kim, còn phần nền trũng sẽ được sơn đỏ gọi là lộng son.

Lường sơn – Dụng cụ đan bằng tre dùng để chứa đựng sơn sống. Bên trong lường được bít kín các khe hở bằng lớp sơn bó và mài nhẵn. Lường có nhiều kích cỡ chứa được từ 10kg đến cả 100kg.

M

Màu (sơn màu) – Ý nói loại sơn tốt. Sơn sâu màu là nước sơn bóng đẹp, tạo nên mặt sơn trông sâu thẳm.

Màu thép sơn – Là phần tóc của cây thép sơn. Ra màu là gọt sửa để phần tóc của thép sơn dài ra khi thép bị cùn trong quá trình sử dụng.

Mật dầu – Lớp sơn sống ở trên cùng trong sải sơn để lâu ngày. Lớp mật dầu này có màu nâu sẫm, sánh và trong như mật đường.

Mo sừng – Dụng cụ làm từ sừng trâu lạng mỏng và chỉnh sửa thành nhiều kích cỡ cho thích hợp với từng công việc. Mo sừng đàn hồi tốt và dẻo hơn loại mo làm bằng gỗ mềm hoặc tre.

Mỏ vầy – Dụng cụ làm bằng gỗ dùng để đánh sơn sống thành sơn chín. Mỏ vầy đi đôi với mủng đánh sơn trong thao tác đánh sơn cánh gián.

Mõ kẹp – Dụng cụ để giữ vỏ trai dùng trong kỹ thuật cưa lộng vỏ trai, vỏ ốc. Mõ kẹp được làm từ chuôi gỗ chẻ đôi có vòng đai bằng dây kẽm thắt ở giữa tạo thành một cái kìm bằng gỗ để kẹp vỏ trai. Một thanh gỗ cắt vát được nêm chốt ở chuôi mõ kẹp để kẹp vỏ trai chắc chắn, không bị xê dịch.

Mủng đánh sơn – Thúng tre đan (có chân đế) được trát bó sơn trong ngoài, mặt sơn bó phía trong lòng thúng được mài nhẵn. Sơn sống được trút vào mủng và dùng mỏ vầy đánh sơn thành sơn chín để chế biến thành sơn cánh gián.

N

Nấu dầu cao kim – Trong pha chế sơn quang dầu, khi nấu dầu trẩu, người ta kiểm tra độ quánh đặc của dầu trẩu bằng cách nhỏ vài giọt dầu lên miếng sắt cho mau nguội rồi dùng đầu ngón tay trỏ chấm vào giọt dầu đó, song chập ngón cái vào ngón trỏ và mở ra từ từ kéo giọt dầu thành sợi dài. Nấu dầu cao 1 kim có nghĩa là độ dài của sợi dầu bằng chiều dài của chiếc kim khâu. Dầu trẩu có thể nấu đặc sánh đến độ cao 2 kim hay 3 kim.

Ngả sơn – Thao tác chế biến sơn sống (sơn thô lấy từ nhựa cây sơn) thành sơn chín gọi là đánh sơn hoặc ngả sơn.

Ngã lửa, ngã nắng – Sơn chín khi đặc quá thường được đun cách thủy cho sơn loãng ra nhưng nếu xử lý không khéo dẫn đến tình trạng sơn bị đun quá lửa. Đồ đựng sơn nếu để lâu dưới ánh nắng cũng làm sơn bị ngã nắng. Sơn bị ngã lửa hay ngã nắng đều rất lâu khô, thậm chí sẽ không thể khô kiệt được nữa.

No dầu, no nhựa – Tỷ lệ của dầu trẩu hoặc nhựa thông được pha trộn với sơn chín với liều lượng thích hợp gọi là sơn đã no dầu, no nhựa. Sơn đói dầu, đói nhựa khi pha trộn chưa đủ liều lượng, làm cho sơn mau khô quá sẽ dẫn đến tình trạng bị nhăn mặt sơn.

Nùn – Dùng bông gòn thấm nước chấm vào bột than thật mịn xoa đều khắp lên bề mặt sản phẩm sơn đã qua nước mài quang rồi dùng gan bàn tay xoa mạnh để làm tan các vết xước rất nhỏ trên bề mặt sản phẩm giúp cho mặt sơn trở nên láng mịn.

Nước thiếc – Là phần nước chứa trong nhựa sơn sống lắng xuống dưới đáy sải sơn để lâu ngày. Tỷ lệ sơn chứa trong nước thiếc không đáng kể nên không được sử dụng.

P

Phủ - Nước sơn sau quét trùm lên toàn bộ bề mặt của lớp sơn trước. Lớp sơn trước phải khô đanh mới phủ nước sơn sau.

Q

Quang – Là quy trình phủ nước sơn cuối cùng trước khi mài, đánh bóng và hoàn thành sản phẩm. Sơn quang phải là sơn thật tốt, thường là sơn giọi nhất.

Quỳ vàng, quỳ bạc – Vàng, bạc được dát mỏng thành những lá vuông khoảng 3.5 – 4cm, xếp thành từng xếp 50 lá đặt cách nhau bởi một miếng giấy bản cùng kích thước và buộc lại gọi là một buộc. Mười xếp gói lại thành một quỳ vàng, quỳ bạc.

R

Rây bạc – Dùng bút lông cứng day miết lên những lá bạc được gỡ sẵn trong lòng cái rây lượt để bột bạc lọt qua mắt lưới bám vào mặt sơn ướt.

S

Sải sơn – Dụng cụ chứa sơn sống. Sải được đan bằng tre nứa và được trát bó trong ngoài. Sải có nhiều cỡ, chứa từ 3kg đến 20kg sơn sống.

Son – Bột đỏ được chế biến từ thần sa (sun-phuy thủy ngân – HgSO4) thành ra bốn loại son khác nhau gồm: son trai, son tươi, son thắm và son nhì.

Sơn sống – Sơn thô, trích từ nhựa cây sơn.

Sơn chín – Sơn đã qua chế biến. Sơn chín có thể được pha thêm dầu trẩu trong sơn quang dầu hoặc pha nhựa thông trong sơn cánh gián và sơn then.

Sơn cánh gián – Sơn chín khi khô mặt có màu hung hung nâu bóng như màu cánh của con gián.

Sơn giọi – Là sơn sống loại tốt, tỷ lệ nước chứa trong sơn khoảng 25 – 30%. Sơn giọi được dùng để ngả sơn chín.

Sơn then (sơn đen) – Loại sơn sống được cho vào chảo gang hay chảo sành và đánh bằng thanh sắt non để tạo ra sơn chín màu đen lánh, bóng mượt và sâu màu.

Sơn thịt (sơn bánh đúc) – Loại sơn sống xấu, hàm lượng nước chứa trong sơn nhiều. Sơn thịt sánh đặc, màu trắng nhạt.

T

Tách tỉa – Dùng dao trổ khắc nét lên nền khảm trai hay cạy bỏ lớp sơn phủ trùm lên các họa tiết được khảm trai.

Thảo (thảo sơn) – Dùng sơn sống quét lên sản phẩm đã được bọc vải. Thảo sơn thường được làm trước khi bó nước sơn sống trộn đất phù sa và mùn cưa.

Thép sơn – Là loại bút vẽ được làm từ tóc hoặc lông đuôi bò. Thép sơn có nhiều kích cỡ. Khi màu thép sơn bị cùn, có thể gọt sửa cho màu thép dài ra như cách gọt bút chì.

Thí – Là lớp sơn chín loại trung bình được sơn nhiều nước và mài phẳng sau mỗi nước. Sơn thí có tác dụng làm nước độn trước khi vào nước sơn quang giúp sơn quang càng bóng đẹp.

Thoắng (sơn thoắng) – Là loại sơn tốt, loãng vừa độ, bóng mượt và tỏa đều. Sơn loãng quá gọi là sơn dong, còn đặc quá gọi là sơn quánh. Sơn dong hay quánh đều không được tốt.

Thố - Đồ chứa sơn bằng sành với nhiều cỡ chứa từ 0.5 đến 2kg sơn.

Thúc son – Động tác dùng muỗng hay vỏ trai miết lên bột son đã được đổ lên bề mặt của miếng lụa căng trên miệng bát nhằm để lọc lấy bột son thật mịn lọt qua mắt lụa xuống lòng bát.

Thuộc đá – Mài sửa viên đá mài cho phẳng mặt và không còn các mảnh sắc để khi mài không làm cho sản phẩm bị trầy xước, ảnh hưởng đến bề mặt bóng đẹp của mặt sơn.

Tỉa (vẽ tỉa) – Vẽ tỷ mỷ các chi tiết bằng đầu bút lông cỡ nhỏ.

Tỉa gọt (gọt tỉa) – Trổ sửa cho gọn và rõ nét các chi tiết dược đắp dày và cao nét.

Tịt (sơn tịt) – Sơn chín khi khô mặt sơn không có màu bóng mượt. Sơn tịt chỉ dùng để làm sơn thí.

Tỏa (sơn tỏa) – Sơn chín được đánh đúng độ, khi quét xong mặt sơn sẽ tự tan biến hết các vệt bút thép, nước sơn dầy mình và bóng mượt. Sơn đặc quá hay sơn đánh chưa chín tới sẽ không tỏa mặt mà để rõ vệt thép gọi là sơn gân.

Toát (toát sơn) – Là xoa một nước sơn rất mỏng lên bề mặt của sản phẩm để tạo độ bóng đều và bảo vệ các lớp nằm bên dưới.

U

Ủ sơn – Sản phẩm sơn khi qua từng công đoạn cần được ủ trong phòng ủ kín gió và đủ độ ẩm cần thiết để sơn khô thật đanh. Việc ủ sơn có tính chất quyết định đến chất lượng bóng đẹp của sản phẩm.

V

Ván lót, kính lótMiếng ván gỗ hoặc miếng kính dùng làm bàn nhào trộn sơn.

(sơn vĩ) – Là sơn thu hoạch từ cây sơn đã quá độ tuổi không còn tốt nữa. Sơn vĩ loãng, khi khô mặt sơn bị tịt, không còn độ bóng.

Vóc sơn – Cốt gỗ đã qua các công đoạn bọc vải, bó, hom, lót, thí, quang chuẩn bị sẵn sàng cho việc vẽ lên mặt vóc. Vóc có thể là vóc tấm, vóc dĩa, vóc hộp, vóc lọ…

X

Xổ sơn – Là động tác nhào trộn dầu trẩu đã nấu cao kim vào sơn chín để chế biến thành sơn quang dầu.

Xuống mặt sơn – Sơn son khi mới vẽ có màu đỏ tươi, nhưng khi sơn khô màu bị sẫm lại. Hiện tượng này gọi là sơn bị xuống mặt, xuống màu. Vì vậy khi pha màu vẽ cần trừ hao độ xuống mặt sơn.

 
 

Tin liên quan

sơn-mài.vn

You are here:   HomeNGHIÊN CỨUThuật ngữ Sơn mài

VỀ SONMAI.VN

Trang Web chuyên về nghệ thuật Sơn mài Việt Nam chính thức ra mắt quý độc giả vào ngày giỗ THùng Vương 10/03/2011 Tân Mão (nhằm ngày 12/04/2011 Dương lịch)

www.sonmai.vn sưu tầm & giới thiệu các tác phẩm sơn mài Việt Nam nhằm đem đến cho quý độc giả những nét  biểu hiện đặc sắc về chất liệu của nghệ thuật Sơn mài Việt Nam. xem tiếp ...

Tìm kiếm trên SONMAI.VN

Sử dụng chức năng Tìm kiếm để tìm các bài viết hoặc hình ảnh trên www.sonmai.vn.
Nhập từ khóa cần tìm vào ô tìm kiếm và nhấn nút Tìm kiếm để tìm nội dung bài viết hoặc hình ảnh liên quan tới từ khóa tìm kiếm trên website.